Loading...

Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh (sub Việt)~ 般若波羅蜜多心經

12,242 views

Loading...

Loading...

Loading...

Rating is available when the video has been rented.
This feature is not available right now. Please try again later.
Published on Nov 21, 2012

*** Đại ý của Bát Nhã Tâm Kinh ***
"Giá điểm linh quang Đạo thượng lai
Chỉ nhân trục vọng đọa trần ai
Quân kim yếu kiến hoàn hương lộ
Ngộ đắc Tâm Kinh Đạo nhãn khai".
Toàn danh của Tâm Kinh là Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh. Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa là chữ Phạn. Ma Ha có nghĩa là lớn, Bát Nhã là trí tuệ, Ba La Mật Đa là đến bờ bên kia (bến giác ngộ). Đại ý của kinh danh là lấy trí tuệ để đến bến giác. Trí tuệ là phần linh quang diệu huệ phát từ tâm. Tâm là Phật tính của ta, nên Thiền Tông nói: "Tức tâm tức Phật", Đàn kinh viết: " Bất thức bản tâm học pháp vô ích". Tâm là thể của tuệ, tuệ là dụng của tâm. Mọi người đều có tâm nhưng không rõ, vì không rõ nên ngu mê mà không có huệ. Kinh là đường, tức là đường đưa ta rời khỏi bến mê.
Tâm kinh chỉ có 262 chữ nhưng bao gồm tâm truyền của Phật pháp. Dương Chấn Tử nói: "Đọc một tạng kinh Phật không bằng coi một quyển Tâm kinh, xem một quyển Tâm Kinh không bằng ngoạn năm chữ " Quan Tự Tại Bồ Tát".
Quan là công phu hồi quang phản chiếu của nhà Phật, là công phu thận độc của Nho giáo trong sách Đại Học, là sự hàng phục tâm viên ý mã, bắt con ngựa đang nhảy nhót và con vượn đang leo trèo buộc vào gốc cây bồ đề. Phật dưới cội bồ đề ngộ đạo chính là ngộ được bản tính Tự tại Bồ Tát.
Tự tại Bồ Tát là bản tính Như Lai mà mọi người đều có, nơi Thánh không tăng ở phàm cũng không giảm. Bản tánh Như Lai, tiểu vô nội đại vô ngoại, tung khắp tam giới, hoành cùng thập phương, nhập lửa không cháy, vào nước không chìm, là Chủ nhân ông, là Bồ Tát, là Như Lai, Tánh này không ngoại cầu, không phải là Phật hay Bồ Tát bên ngoài, nên gọi là Tự tại.
Thơ viết:
"Bồ Tát tùng lai bất ly thân
Tự tính muội liễu bất tương thân
Nhược năng tĩnh tọa hồi quang chiếu
Tiện thức sanh tiền cựu Chủ Nhân".
Tự tính Bồ Tát không khi nào rời thân người, Pháp Bảo Đàn Kinh viết: "Tính tại thân tâm tại, tính khứ thân tâm hoại", khi Chủ nhân ông rời khỏi thân, con người sẽ trở thành cái xác vô hồn. Mọi suy tư hành động của phần hình hài đều do Chủ nhân ông điều khiển, nhưng chỉ vì mê muội nên không rõ mà thôi. Nếu biết hồi quang phản chiếu, dùng công phu "hành thâm" đến mức bất nhiễm trần, bất sanh niệm thì Chủ nhân ông sẽ xuất hiện. Khi thấy Chủ nhân ông tự nhiên ngũ uẩn đều không, không có ngũ uẩn thì khổ ách cũng không còn, tứ diệu đế, thập nhị nhân duyên, vạn pháp và vô pháp cũng chỉ là ảo. Tâm thể chư Phật đều nhờ Quan tự tại Bồ Tát, tức là quy y nơi tự tính Phật, mà chứng Đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác.

** "Sắc bất dị không, không bất dị sắc. Sắc tức thị không, không tức thị sắc".**
Bốn câu này là cốt tủy của Bát Nhã Tâm Kinh, là bí lục của Thiền Tông, sách Đạo chú giải rất nhiều về hai chữ sắc không, nhưng tùy tâm cảnh của người dịch mà có sự khác biệt. Lấy bốn chữ "Hư linh bất muội" của Chu Tử mà luận: Chữ Linh tức là Sắc, chữ Hư tức là Không. Như mảnh gương soi vật, thể của gương thuộc hư (Không), không một vật. Bản thể tuy hư, nhưng khi soi vật thì linh diệu vô cùng (Sắc), vật thể tốt xấu, lớn nhỏ...đều hiện trên mặt gương. Vì hư nên mới linh, vì không mới hiện sắc, nên sắc không là một, không sắc bất nhị.
Bản thể của Tâm, tịch tĩnh thường chiếu, vật đến thì ứng, vật đi thì tĩnh, vô chắp vô lưu, thể dụng như như, nên gọi là Như Lai.

*** Giải thoát ***
Giải là cởi bỏ sự ràng buộc của nghiệp lực, thoát là rời khỏi khổ cảnh của trần gian. Phật pháp dùng đoạn nghi sanh tín làm chủ, lấy ly tướng làm tông, lấy vô trú làm thể, đó là tự tính giải thoát. Nói một cách nôm na, phải hiểu thấu mọi vật trên đời đều là giả tạo, xem cảnh vui buồn cay đắng như một giấc mộng không thực, dùng công phu tảo tâm phi tướng để tâm được thanh tĩnh, vật tới thì ứng, vật đi thì tĩnh. Tâm được thanh tĩnh tức là giải thoát.

Loading...

Advertisement

to add this to Watch Later

Add to

Loading playlists...