Việt Nam tụt hậu gồm nhiều nguyên nhân khách quan và một số nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan phần lớn xuất phát từ điều kiện lịch sử, đất nước binh đao loạn lạc liên miên từ thời Nam Bắc Triều, Trịnh Nguyễn phân tranh, khởi nghĩa Tây Sơn đến năm 1979 thì cuộc chiến tranh quy mô cuối cùng mới chấm dứt trên mảnh đất điêu tàn Việt Nam.
Ngay trong thời Nguyễn thì cũng không có hòa bình hoàn toàn mà loạn lạc, giặc giã, khởi nghĩa nông dân nổi dậy khắp nơi, giặc giã như ong, đỉnh cao là khởi nghĩa Lê Văn Khôi. Thời Gia Long thì đánh nhau với Tây Sơn Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Cảnh Thịnh, thời Minh Mạng thì đánh nhau 3 năm trời với Lê Văn Khôi và quân triều phải đi dẹp nhiều cuộc khởi nghĩa khác, tới thời Tự Đức thì phải dẹp giặc Khách Cờ Trắng, Cờ Vàng, Cờ Đen. Sau đó liên quân Pháp - Tây Ban Nha xâm lược Đà Nẵng, mở đầu cuộc đô hộ của thực dân Pháp tại Việt Nam suốt gần 100 năm sau đó.
Sau đó là cuộc kháng chiến chống Pháp - Mỹ 1945-1954 (Pháp trực tiếp chiến đấu, Mỹ đứng sau viện trợ, cố vấn, chi tiền, hỗ trợ, hậu thuẫn), cuộc chiến chống toàn Mỹ 1954-1975, cuộc chiến chống diệt chủng Khờ-me Đỏ và cuộc kháng chiến nơi biên ải chống Trung Quốc 1979 đưa đến sự tàn phá gần như toàn diện các vùng đất cực Bắc của tổ quốc.
Đặc biệt là trong cuộc kháng chiến chống Mỹ 1954-1975, VN chịu sự tổn thất không thể tưởng tượng nổi, đất nước bị tàn phá nhất thế giới, và có thể nói trong lịch sử nhân loại, lịch sử thế giới, chưa có 1 đất nước nào bị tàn phá thảm khốc đến mức như vậy. Một mình VN chịu 9 triệu tấn bom, nhiều gấp 3 lần cả thế giới bị trong Thế chiến thứ 2. Ngoài bom Napalm, bom bi, VN còn bị thiệt hại bởi vũ khí hóa học của Mỹ, để lại nhiều di chứng độc hại lâu dài cho con người và môi sinh. Một mình thành phố Quảng Trị trong 81 ngày đêm chiến đấu đã hứng chịu số bom đạn gấp 7 lần 2 quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki của Nhật.
Rõ ràng sự tàn phá cực kỳ thảm khốc mà VN phải chịu trong chiến tranh chống Mỹ là không thể chỉ được xem như một sự thiệt hại chiến tranh, hậu quả chiến tranh thông thường như bao cuộc chiến khác, vì nó đã vượt khỏi sự tưởng tượng của con người.
Ngoài những hội chứng chiến tranh như chất độc hóa học diệt chủng, thì sau chiến tranh phải trả nợ cho các đồng minh đã giúp VN thắng Pháp, Mỹ giành độc lập thống nhất. Và sau khi BTH quan hệ với Mỹ thì phải thanh toán số nợ cũ của ngụy quyền Thiệu Kỳ mà Mỹ đã xây dựng các công trình tại miền Nam VN mà ngày nay VN dùng (trước 1975, 100% các công trình sau này ở miền Nam là do Mỹ chi tiền xây dựng, vì thế Mỹ viện cớ rằng sau khi tiếp quản Sài Gòn thì VN dùng những công trình quân sự và dân sự này thì phải trả nợ cho Mỹ, và đây là điều kiện để bình thường hóa ngoại giao năm 1992).
Ngoài các di sản chiến tranh thì còn có bao vây và cấm vận. Muốn bỏ đói VN đến chết, muốn bức tử VN bằng biện pháp bóp nghẹt kinh tế.
VN tụt hậu là điều tự nhiên, VN còn sống sót, còn tên trên bản đồ thế giới mới là một kỳ tích.
Còn nguyên nhân chủ quan là lỗi lầm, sai sót, yếu kém trong một số lĩnh vực của các nhà lãnh đạo Việt Nam từ thời độc lập 1945 cho đến nay. Mà đỉnh cao là do chủ quan, áp dụng chủ nghĩa ML một cách máy móc, hiểu chưa đúng đắn chính xác, áp dụng chế độ kinh tế tập trung kiểu Stalin. Đưa đến việc bị cấm vận và cả nước mất động lực phát triển, động lực lao động trong suốt thời gian Bao Cấp. Một số vấn đề về tham nhũng, tiêu cực, suy thoái đạo đức trong hàng ngũ lãnh đạo, đảng viên, cán bộ v.v. vẫn chưa giải quyết triệt để.
Việt Nam tụt hậu gồm nhiều nguyên nhân khách quan và một số nguyên nhân chủ quan. Nguyên nhân khách quan phần lớn xuất phát từ điều kiện lịch sử, đất nước binh đao loạn lạc liên miên từ thời Nam Bắc Triều, Trịnh Nguyễn phân tranh, khởi nghĩa Tây S...